Bỡ ngỡ là từ láy hay từ ghép?

Bỡ ngỡ là từ láy hay từ ghép

Ngày đầu vào lớp mới, ai cũng có chút bỡ ngỡ. Từ này hay gặp trong bài văn kể về ngày khai giảng, và cũng hay gặp trong bài tập phân loại: bỡ ngỡ là từ láy hay từ ghép, láy kiểu gì? Bài này trả lời từng câu, giống các bài khác trong mục từ láy.

✅ Bỡ ngỡ là từ láy, cụ thể là từ láy vần (lớp 7 gọi là láy bộ phận): hai tiếng cùng vần ơ và cùng dấu ngã, tách riêng không tiếng nào mang nghĩa “lạ, chưa quen”. ❌ Không phải từ ghép.

Từ loại: tính từ, chỉ trạng thái; cũng dùng như danh từ (còn nhiều bỡ ngỡ). VD: Ngày đầu đến trường, em còn nhiều bỡ ngỡ.

💡 Mẹo nhớ: hai tiếng cùng vần Ơ, cả hai tiếng đứng riêng đều không mang nghĩa này → từ láy vần.

Vì sao “bỡ ngỡ” là từ láy?

Tách hai tiếng ra và so từng phần:

Tiêu chíBỡNgỡ
Âm đầubng
Vần và thanhơ, thanh ngãơ, thanh ngã
Đứng riêng có nghĩa “lạ, chưa quen”?❌ Không❌ Không (“ngỡ” đứng riêng nghĩa là tưởng)

Hai tiếng khác âm đầu (b – ng) nhưng giống nhau ở vần “ơ” và cùng thanh ngã. Không tiếng nào đứng riêng mang nghĩa “lạ lẫm, lúng túng”: “ngỡ” đứng một mình nghĩa là tưởng (cứ ngỡ là mơ), còn “bỡ” không có nghĩa liên quan. Nghĩa chỉ có khi hai tiếng đi liền nhau. Vì vậy bỡ ngỡ là từ láy vần (cách gọi lớp 4), thuộc nhóm láy bộ phận (cách gọi lớp 7).

Bỡ ngỡ giống khéo léo ở chỗ cùng là láy vần. Khác ở chỗ khéo léo có tiếng gốc “khéo”, còn bỡ ngỡ không có tiếng nào mang nghĩa riêng.

Ở điểm không có tiếng gốc này, bỡ ngỡ lại giống mênh mông và líu lo.

Về chính tả, cả hai tiếng đều mang dấu ngã; viết “bở ngở” là sai. Giải thích chi tiết có trong bài Bỡ ngỡ hay bở ngở?

“Bỡ ngỡ” nghĩa là gì? Thuộc từ loại gì?

Bỡ ngỡ tả cảm giác còn lạ, chưa quen nên lúng túng, chưa biết làm thế nào, thường gặp khi đến một nơi mới hay bắt đầu một việc mới. Dân gian có câu “Bỡ ngỡ như chim chích vào rừng” để tả người mới đến chỗ lạ, còn ngơ ngác chưa biết đi đâu.

Về từ loại, bỡ ngỡ là tính từ, chỉ trạng thái: thêm “rất”, “còn” phía trước vẫn nghe xuôi (còn bỡ ngỡ, rất bỡ ngỡ). Khi đứng sau “những”, “nhiều” (còn nhiều bỡ ngỡ, những bỡ ngỡ ban đầu), nó được dùng như danh từ, chỉ chính những cảm giác lạ lẫm ấy. Nếu bài tập chia từ thành ba nhóm sự vật, hoạt động, đặc điểm, bỡ ngỡ trong câu “Em còn bỡ ngỡ” thuộc nhóm từ chỉ đặc điểm (trạng thái).

  • Cụm từ hay gặp: còn bỡ ngỡ, bỡ ngỡ trước, những bỡ ngỡ ban đầu, ánh mắt bỡ ngỡ.
  • Gần nghĩa: lạ lẫm, ngơ ngác, lúng túng, ngỡ ngàng.
  • Trái nghĩa: quen thuộc, thành thạo, tự tin.

Đặt câu với “bỡ ngỡ”

  • Ngày đầu đến trường, em còn nhiều bỡ ngỡ.
  • Các bạn học sinh lớp Một bỡ ngỡ bước vào lớp học mới.
  • Mới chuyển lên thành phố, ông bà còn bỡ ngỡ với tiếng còi xe.
  • Cô giáo nhẹ nhàng giúp chúng em vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu.
  • Lần đầu cầm vợt cầu lông, em bỡ ngỡ không biết đánh thế nào.

Ở câu 2, 3 và 5, bỡ ngỡ là tính từ, nêu trạng thái của người. Ở câu 1 và 4, nó đứng sau “nhiều”, “những” nên được dùng như danh từ.

Mẹo phân biệt từ láy và từ ghép qua “bỡ ngỡ”

Nhiều từ cùng nói về cảm giác “lạ” nhưng không cùng cấu tạo:

TừPhần lặp lạiXếp loại
bỡ ngỡvần ơ (b – ng khác âm đầu)Từ láy vần
ngỡ ngàngâm đầu ngTừ láy âm đầu
lạ lẫmâm đầu lTừ láy âm đầu
xa lạcùng vần a, nhưng “xa” và “lạ” đều có nghĩaTừ ghép

Cả bốn từ đều liên quan đến cảm giác lạ, nhưng chỉ xa lạ là từ ghép. Nghĩa gần nhau không giúp đoán cấu tạo; phải tách tiếng và xét xem tiếng thứ hai có nghĩa hay không (xa lạ cũng cùng vần a, nhưng “lạ” có nghĩa).

Mẹo 1 – Khác âm đầu mà cùng vần → nghĩ đến láy vần: bỡ ngỡ (vần ơ), khéo léo (vần eo).

Mẹo 2 – Không tiếng nào mang nghĩa của cả từ, hai tiếng lặp âm → từ láy: bỡ ngỡ, mênh mông, líu lo. Ngoại lệ: tên con vật, cây cối như chuồn chuồn, đu đủ được sách xếp khác nhau.

Mẹo 3 – Nhớ dấu: bỡ ngỡ có hai dấu ngã, không viết “bở ngở”.

Mẹo ghi nhớ: bỡ ngỡ có hai tiếng cùng vần Ơ, đứng riêng đều không mang nghĩa lạ lẫm nên là từ láy vần.

Bài tập: Từ in đậm là từ láy hay từ ghép?

  1. Ngày đầu vào lớp, em còn bỡ ngỡ.
  2. Em ngỡ ngàng khi nhận được món quà bất ngờ.
  3. Thành phố lớn còn xa lạ với em.
  4. Mặt hồ gợn sóng lăn tăn.
  5. Lớp học mới có bao điều mới mẻ.
Xem đáp án
  1. Từ láy vần: hai tiếng cùng vần ơ, không tiếng nào có nghĩa riêng.
  2. Từ láy âm đầu: hai tiếng lặp âm ng.
  3. Từ ghép: hai tiếng cùng vần a, nhưng “xa” và “lạ” đều có nghĩa.
  4. Từ láy vần: hai tiếng cùng vần “ăn” (lăn – tăn).
  5. Từ láy âm đầu: “mới” có nghĩa, còn “mẻ” dù đứng riêng có nghĩa (sứt mẻ, một mẻ bánh) nhưng không góp nghĩa vào từ này.

Câu hỏi thường gặp

Bỡ ngỡ là từ láy gì?

Bỡ ngỡ là từ láy vần (lặp vần ơ). Theo cách chia ở lớp 7, đây là từ láy bộ phận.

Bỡ ngỡ là từ loại gì?

Bỡ ngỡ là tính từ, chỉ trạng thái còn lạ, chưa quen. Trong cụm “những bỡ ngỡ ban đầu”, nó được dùng như danh từ.

Bỡ ngỡ và ngỡ ngàng khác nhau thế nào?

Bỡ ngỡ là còn lạ, chưa quen nên lúng túng (ngày đầu đi học). Ngỡ ngàng là ngạc nhiên vì điều bất ngờ, như không tin là thật (ngỡ ngàng trước món quà). Cả hai là từ láy, nhưng bỡ ngỡ láy vần, còn ngỡ ngàng láy âm đầu.

Bỡ ngỡ viết dấu hỏi hay dấu ngã?

Viết bỡ ngỡ, dấu ngã ở cả hai tiếng.